Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

Hội thảo: Tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu từ đâu?


Yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam đang đặt ra bức thiết trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2010 và tại thời điểm nước ta bước vào giai đoạn phát triển 2011-2020, nhằm tạo những nền tảng thể chế và chính sách phù hợp cho giai đoạn phát triển nhanh và bền vững sắp tới.
Như vậy câu hỏi lớn đặt ra ở đây là: Liệu một quá trình tái cấu trúc đều phải tuân thủ một lộ trình, trình tự lô-gíc hay có thể chọn một khâu, một điểm đột phá từ đó làm tiền đề cho các khâu tái cấu trúc khác hay làm đồng thời các khâu? Vậy tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam nên bắt đầu từ đâu? Trình tự tái cấu trúc sẽ là thế nào?
Trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học đã ký kết; Công ty cổ phần Tri Thức Doanh Nghiệp Quốc Tế phối hợp với Viện Kinh tế Việt Nam đồng tổ chức hội thảo với chủ đề “ Tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu từ đâu?”

            Mục đích: 
1-                  Nhận diện bối cảnh và xuất phát điểm của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam trên phương diện các thể chế thị trường chủ yếu như thị trường tài chính-ngân hàng-chứng khoán, thị trường đất đai-bất động sản, thị trường lao động-giáo dục, thị trường khoa học-công nghệ, thị trường nông sản ..v.v. để tìm ra những căn nguyên khuyết tật thị trường khiến cho quá trình tái cấu trúc tất phải xảy ra;

2-                  Nhận diện thực trạng các thể chế phát triển trên phương diện các thể chế quản trị và các nguồn lực đầu tư phát triển nhà nước như đầu tư công (đầu tư của khu vực DNNN), thu-chi ngân sách, phân cấp quản lý Trung ương-địa phương, hạ tầng cơ sở, năng lượng, nguồn nhân lực và hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) ..v.v... để tìm ra những khuyết tật trong hệ thống thể chế phân bổ và quản trị các nguồn lực phát triển;

3-                  Cung cấp luận cứ cho các định hướng tái cấu trúc chủ yếu đối với nền kinh tế Việt Nam, đề xuất các chính sách và giải pháp triển khai quá trình tái cấu trúc; tìm kiếm và xác định các điểm “đột phá”, các điểm “khởi động” cho quá trình này..
Thành phần tham dự: Hội thảo sẽ có khoảng 400 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các hiệp hội và đại diện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và các cơ quan thông tấn báo chí.
Bảo trợ thông tin: Tạp chí Bất Động sản Việt Nam, Báo Doanh Nhân Sài Gòn, Báo Sài Gòn giải phóng, Tạp chí Công nghệ Ngân Hàng, Tạp chí Địa ốc Việt Nam, Kênh truyền hình FBNC, hoithao.vn…

Thời gian: Ngày 26/08/2011
Địa điểm: Nhà Khách văn phòng Quốc Hội, 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q3, Tp. HCM
Ghi chú: Mọi ý kiến tham gia đóng góp đề nghị chuyển vào website www.sucmanhtrithuc.vn hoặc www.ibkn.vn

Hội thảo: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần Tri Thức Doanh Nghiệp Quốc Tế phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) tổ chức Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Nhu cầu cấp bách”.

Mục đích: Hội thảo nhằm phân tích, đánh giá tổng quan về nguồn nhân lực chất lượng cao; xác định rõ nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; dự báo xu hướng, nhu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đưa ra các khuyến nghị về chính sách và giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao…

Thành phần tham dự: Hội thảo sẽ có khoảng 400 đại biểu đến từ Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, các tỉnh vùng trọng điểm kinh tế phía nam và các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các hiệp hội và đại diện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và các cơ quan thông tấn báo chí.
Bảo trợ thông tin: Tạp chí Bất Động sản Việt Nam, Báo Doanh Nhân Sài Gòn, Tạp chí Công nghệ Ngân Hàng, Tạp chí Địa ốc Việt Nam, Kênh truyền hình FBNC, hoithao.vn…

Thời gian: Này 18/08/2011

Địa điểm: Hội trường Thành Ủy TP.HCM số 111 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3
Ghi chú: Mọi ý kiến tham gia đóng góp đề nghị chuyển vào website www.sucmanhtrithuc.vn hoặc www.ibkn.vn

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Gót chân Asin của người khổng lồ Trung Nguyên

Phần 1: Gót chân Asin của người khổng lồ Trung Nguyên


Từ việc ngồi uống cà phê, nghĩ về cà phê Trung Nguyên của Việt Nam...

Với người Việt Nam, cà phê là một loại thức uống khá phổ biến. Ở miền Nam, cà phê và trà đá là hai loại thức uống phổ biến hàng đầu. Người ta hay dùng trà đá trong khi ăn, và giải khát; cà phê dùng buổi sáng hoặc bất cứ lúc nào trong ngày nhằm mục đích có sự sảng khoái, thể hiện phong cách và thậm chí cả giải khát (Trước là cà phê, sau thêm bình trà). Ở miền Bắc trước đây, loại nước uống phổ biến là trà (hay chè), pha kiểu Bắc, một phần vì cây cà phê miền Bắc không trồng được, nên giá cà phê cao, hiếm. Hiện nay, trà và cà phê cũng là hai loại thức uống phổ biến đem lại sự sảng khoái, tỉnh táo, và giải khát cho người dân miền Bắc. Với miền Trung, có thể nói rằng trà là nước uống hàng ngày, sau đó mới đến cà phê. Nhìn chung, tiêu thụ cà phê ở miền Nam nhiều hơn miền Bắc, thấp nhất trong ba miền là miền Trung. Một nghiên cứu năm 2009 mang tên "Phân tích thị hiếu tiêu dùng cà phê Việt Nam" của Viện Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp - Nông thôn do TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn và ThS. Nguyễn Đức Lộc chủ biên cho biết, tại thời điểm nghiên cứu năm 2006, người miền Nam tiêu dùng cà phê cao hơn khoảng 4,5 lần so với người miền Bắc, người miền Trung, một cách tương ứng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006, mức tiêu thụ cà phê bình quân là 0,96kg/người/năm cao hơn gần 3 lần so với mức bình quân ở Hà Nội (0,32kg/người/năm).

Hiện nay, cà phê có thương hiệu nổi tiếng và có chuỗi cửa hàng phải kể đến Trung Nguyên, Highlands, và Gloria Jeans. Ngoài ra, ông lớn thế giới về cà phê chuỗi cửa hàng Starbucks cũng đã vào Việt Nam nhưng mới chỉ dưới dạng thăm dò thị trường.

Trong ba nhãn hiệu nổi tiếng trên, chiếm thị phần lớn nhất là Trung Nguyên, thể hiện ở các sản phẩm cà phê hòa tan, cà phê quán, và cà phê bột (xay). Thống kê năm 2003 trên trang chủ của Trung Nguyên cho thấy tại sự kiện thử mùi tại Dinh Thống Nhất sản phẩm hòa tan của Trung Nguyên chiếm đến 89% số người lựa chọn, còn lại là Nescafé (11%). Bên cạnh đó, nếu lấy số lượng cửa hàng quan sát được làm căn cứ để so sánh cũng có thể thấy sự vượt trội của Trung Nguyên so với hai nhãn hiệu còn lại. Nghiên cứu trích dẫn ở trên cũng cho biết: khoảng 61% số người tiêu dùng cà phê tại Hà Nội cho biết họ đang tiêu dùng cà phê Trung Nguyên, và ở Thành phố Hồ Chí Minh là 58%. Hai nhãn hiệu Nescafé và Vinacafé có tỷ lệ thấp hơn, khoảng 9,9% ở Hà Nội (hai nhãn xấp xỉ nhau), tại Thành phố Hồ Chí Minh là 12% và 13%, một cách tương ứng.

Vào trang web của Trung Nguyên tại địa chỉ http://www.trungnguyen.com.vn có rất nhiều điều thú vị. Điểm nổi bật là Trung Nguyên đưa ra Học thuyết Cà phê, theo đó cà phê không chỉ là thức uống mà còn là thiên sứ mang các giá trị triết lý, tư tưởng tinh thần, văn hóa; cà phê là di sản của nhân loại, là báu vật của Tạo hóa, và chính là nguồn năng lượng của tri thức sáng tạo.

Nhìn tổng quát, Trung Nguyên đang ở thế thượng phong so với các đối thủ cạnh khác trong lĩnh vực sản phẩm cà phê hòa tan là Nescafé, trong lĩnh vực chuỗi cửa hàng là Highlands, và Gloria Jeans.

Trung Nguyên đã có kế hoạch lớn xây dựng một bảo tàng cà phê thế giới tại Buôn Ma Thuột, biến Buôn Ma Thuột thành thánh địa cà phê thế giới, và đem cà phê Trung Nguyên đi chinh phục thế giới. Hiện nay, ba nội dung trên đang được thực hiện với những bước tiến đáng kể (xem cụ thể tại trang Web của Trung Nguyên).

... đến những băn khoăn về gót chân Asin của người khổng lồ đã xuất hiện....

Trong bối cảnh thế đứng của Trung Nguyên tỏ ra khá vững chắc, lang thang các quán cà phê với các thương hiệu cà phê nổi tiếng, có thể cảm nhận về những khó khăn mà chuỗi cửa hàng Trung Nguyễn đang phải đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Và từ hoạt động của chuỗi cửa hàng Trung Nguyên, có thể dự phóng những khó khăn và thuận lợi cho toàn bộ những hoạt động của Trung Nguyên, vì:

- Trung Nguyên đã có kế hoạch chinh phục thế giới thông qua chiến lược nhượng quyền và mở các cửa hàng của mình ở các nước khác (hiện nay đã xuất hiện ở 53 quốc gia). Do đó, hoạt động của chuỗi cửa hàng quyết định sự thành công của kế hoạch này. Người tiêu dùng nước ngoài lựa chọn sản phẩm của Trung Nguyên hay không, tùy thuộc vào việc họ đánh giá thương hiệu Trung Nguyên dưới góc độ chuỗi cửa hàng như thế nào. Cũng cần thấy rằng hiện nay, thị trường tiêu thụ cà phê chính của Việt Nam là thị trường ngoài nước, đến 90% sản lượng sản xuất dành cho xuất khẩu, để thấy tầm quan trọng của thị trường ngoài nước không chỉ với Trung Nguyên mà đối với cả quốc gia.

- Sản phẩm chính sử dụng tại chuỗi cửa hàng là cà phê xay, có hương vị khác với loại hòa tan. Nếu chuỗi cửa hàng thành công, sản phẩm hòa tan được hưởng hiệu ứng tích cực. Nhưng ngược lại, nếu chuỗi cửa hàng không thành công, sản phẩm hòa tan (thường được bày bán tại các siêu thị) sẽ chịu hiệu ứng tiêu cực. Do đó, hoặt động chuỗi cửa hàng ảnh hưởng rất lớn đến sản phẩm cà phê các loại của Trung Nguyên.

Nhìn một cách khái quát, trong ba chuỗi cửa hàng của các thương hiệu lớn như Trung Nguyên, Highlands, Gloria Jeans, có thể thấy những điều sau:

- Một là, về đối tượng khách hàng: Khá rõ ràng để thấy đối tượng khách hàng mà Highlands đang phục vụ là nhóm người tiêu dùng trung lưu, giới văn phòng, giới trẻ; đối tượng khách hàng của Gloria Jeans là giới trẻ khoảng dưới 35 tuổi, lớp trung lưu, giới văn phòng; đối tượng khách hàng của Trung Nguyên khá phong phú (thậm chí ô hợp) với đủ các đối tượng, từ giới trẻ, người buôn bán, người làm nghề tự do, không việc làm đến giới văn phòng, người có thu nhập cao, giới đứng tuổi. Đối tượng khách hàng dàn trải là một điểm yếu có tính dài hạn trong kinh doanh. Trong marketing hiện đại, đối tượng khách hàng ô hợp là do chiến lược marketing không bản sắc, hậu quả là thương hiệu chuỗi cửa hàng cũng không có bản sắc, hay bản sắc của chuỗi cửa hàng nhàn nhạt dần sau những tưng bừng của giai đoạn đầu. Việc Trung Nguyên đang thu hẹp hoạt động nhượng quyền trên phạm vi cả nước thời gian gần đây phải chăng là dấu hiệu của sự trục trặc trong chiến lược xác định khách hàng mục tiêu?

Bên cạnh đó, nghiên cứu đã dẫn ở trên cho thấy số lượng và giá trị cà phê tiêu dùng nhiều nhất rơi vào các nhóm tuổi trung niên (35 - 50 tuổi) và già (trên 50 tuổi), nhưng nhóm trẻ (15 - 35) lại là nhóm có xu hướng tăng tiêu thụ cà phê mạnh mẽ. Về nghề nghiệp, những người là kỹ thuật viên, lãnh đạo quản lý, nhà chuyên môn, nhân viên văn phòng, và nhân viên ngành dịch vụ có lượng cà phê tiêu thụ nhiều nhất (trên 0,5kg/người/năm).

Kết quả nghiên cứu này gợi ý gì cho chuỗi cửa hàng Trung Nguyên chọn khách hàng mục tiêu?

- Hai là, thói quen uống cà phê tại quán là phổ biến, đặc biệt ở miền Nam, miền Bắc. Nghiên cứu trích dẫn cho biết đối với Thành phố Hồ Chí Minh, 96% số người được hỏi cho rằng họ có thói quen uống cà phê ở quán, tỷ lệ này ở Hà Nội là 72,4%. Trong ba yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định uống cà phê ở quán là khẩu vị, phong cách quán và nhãn hiệu cà phê sử dụng thì 44,7% số người uống cà phê ở quán khẳng định là khẩu vị (cụ thể đa phần người tiêu dùng ưa thích cà phê có vị đắng và mùi thơm), 39.9% trả lời cho phong cách quán (những quán yên tĩnh, sang trọng, có phong cách, dễ tụ tập bạn bè là những đặc điểm thu hút người uống), và chỉ có 15,4% lựa chọn nhãn hiệu (điều lý thú là Trung Nguyên là nhãn hiệu được nhiều người biết đến nhất).

Về phong cách quán, trong ba nhãn hiệu đang bàn, điều đáng buồn là Trung Nguyên đang nhạt dần về phong cách quán. Không phải cứ có bảng hiệu đồng bộ, nhân viên đồng phục, menu thống nhất là đương nhiên tạo phong cách. Vào quán Trung Nguyên bây giờ, người ta không thấy ấn tượng rõ nét về sự lôi cuốn, về sự chăm chút cho các chi tiết đặc biệt, về tính chuyên nghiệp của phong cách phục vụ của nhân viên. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ sự nhạt trong xác định khách hàng mục tiêu hoặc cũng có thể từ việc thiếu các thiết kế mang tính sáng tạo dành cho hệ thống cửa hàng, hoặc giám sát chất lượng phục vụ hiệu quả.

Nói về phong cách quán, phải liên tưởng đến Triết lý Cà phê của Trung Nguyên với thông điệp bao trùm: Cà phê phát triển sự sáng tạo và tri thức. Thiết tưởng phong cách quán cũng phải hướng đến triết lý ấy. Khung cảnh của quán, phong cách phục vụ, sự đa dạng của các loại nước uống từ cà phê đã đủ thúc đẩy khả năng sáng tạo của khách hàng hay không? Sự luộm thuộm, cẩu thả, thiếu chăm sóc sẽ triệt tiêu cảm hứng sáng tạo. Thiếu đi một khung cảnh mang tính sáng tạo, cà phê Trung Nguyên chỉ là một thức uống mang tính kích thích thông thường chống cơn mệt mỏi, buồn ngủ.

Bây giờ bạn bè hẹn hò nhau ra quán cà phê gặp mặt vui vẻ, mấy ai hẹn hò ở Trung Nguyên nữa...

- Ba là, về khẩu vị, đây là điểm rất đáng bàn. Nếu như Highlands chọn cách đi theo những người khổng lồ nước ngoài bằng cách dung hòa hương vị và phong cách trong nước và nước ngoài, Gloria Jeans là một phong cách và hương vị nước ngoài, thì Trung Nguyên đặt mục tiêu xác định bản sắc về khẩu vị của cà phê của mình (tạm gọi là bản sắc cà phê Việt Nam). Vậy thì, bản sắc cà phê Việt Nam là gì? Có phải là đắng và thơm như sản phẩm của Trung Nguyên hiện nay không? Và, bản sắc cà phê ấy thuyết phục người tiêu dùng Việt Nam ở mức độ nào (theo lứa tuổi, nghề nghiệp...)? Người tiêu dùng nước ngoài có khẩu vị như thế nào và họ chấp nhận bản sắc khẩu vị Trung Nguyên đến mức độ nào?

Trên thực tế, cà phê dần trở thành thức nước uống giải khát phổ biến cho nên độ đắng, độ "say", độ ngọt của nó cần phải phù hợp. Lấy cà phê Ý làm ví dụ. Có nhiều loại như Espresso (đen), Espresso Lungo (đen nhạt, gấp đôi nước cho vào phin đối với một lượng Espresso), Espresso Ristretto (đen đắng, ngược lại với Espresso Lungo, pha chế với lượng nước ít hơn, 15-20 ml), Caffè Americano (đen loãng, Espresso được pha loãng với cùng một lượng nước hay gấp đôi sau khi ra khỏi phin), Caffè Freddo (đen đường lạnh, Lungo được pha đường thiệt là ngọt, ướp thiệt lạnh), Espresso Doppio (đen to, Espresso với định lượng gấp đôi, 50ml), Espresso Macchiato (đen sữa, Espresso pha thêm chút sữa, hoặc thêm bọt sữa), Espresso Corretto (hay gọi ngắn là Corretto, đen pha rượu, Esspresso pha thêm chút rượu mạnh, thường là rượu Grappa của Ý), Caffè Latte (cà phê sữa, 1 sữa pha với 1 Espresso, có thể thêm chút sữa đánh bọt), Latte Macchiato (dạng bạc xỉu, sữa nhiều, chỉ có một chút Espresso), Cappuccino (hãy cứ gọi là cappuccino, gồm 3 phần bằng nhau là Espresso hoặc Espresso Lungo, sữa nóng và sữa đánh bông (bọt sữa), thêm bột cacao hoặc bột quế lên mặt trên), Cappuccino Chiaro (Cappuccino nhẹ hay Cappuccino ướt, Cappuccino với nhiều sữa hơn bình thường), Cappuccino Scuro (Cappuccino đậm hay Cappuccin khô, Cappuccino với ít sữa hơn bình thường), Cappuccino con Panna (Cappuccino dùng kem sữa đánh đặc thay vì sữa sủi bọt. Tương tự cái này là Espresso con Panna, tức là bỏ đi lớp sữa của Cappuccino, chỉ có Espresso và kem sữa), Chocolaccino (Cappuccino thêm sôcôla nghiền), và Mocha (cà phê pha với cacao và kem sữa đánh đặc).

Nhìn vào dãy các sản phẩm cà phê mang phong cách Ý, có thể thấy rằng độ đắng, độ ngọt, độ thơm trong cà phê thương mại dù rất phong phú, nhưng cái phổ biến vẫn là các loại Cappuccino và các loại cà phê đen pha sữa để đáp ứng nhu cầu của đại chúng, chứ không phải loại đen đắng như Espresso hay Espresso Ristretto vốn dành cho người đặc biệt ghiền cà phê.

Thế nên cứ "đắng và thơm" (thậm chí khá ngọt với loại hòa tan) như hiện nay, e rằng với giới trẻ và trung niên, Trung Nguyên không còn lôi cuốn. Với tuổi già, cà phê đắng (thường đi với độ “say” cao) hay ngọt có khi còn không tốt cho sức khỏe, và công việc.

Nếu chỉ đắng và thơm cũng e rằng chưa thể gọi là bản sắc của cà phê Việt Nam vì đặc điểm này vẫn có ở các loại cà phê có tiếng khác (như vài dạng cà phê của Ý trình bày ở trên), đó là chưa kể cái cho là bản sắc ấy chưa hẳn phù hợp với thị hiếu số đông thì khó phát triển thị trường trong nước. Thị trường nước ngoài lại càng khó tính hơn và đặc thù. Nhiều người nước ngoài khá tò mò về bản sắc của cà phê Việt Nam như quảng cáo và đã hào hứng dùng thử. Nhưng đa phần đều nhận xét là chưa thể có cái gọi là bản sắc của cà phê Việt Nam, đặc biệt là ở khía cạnh vị giác, thị giác, khứa giác, và cả thính giác (là hiệu ứng âm thanh đi kèm tại quán). Đây quả là một vấn đề quá khó.

Phần 2: Bàn việc nâng niu bàn chân người khổng lồ đất Việt mang tên Trung Nguyên

Khó khăn, sơ hở nhưng không phải không có cách khắc phục và quan trọng là còn thời gian để khắc phục. Starbucks là một tấm gương rất đáng học hỏi: trong khi vươn ra toàn thế giới, Starbucks vẫn trụ rất vững chắc tại Hoa Kỳ; dù có những giai đoạn rơi vào thoái trào, Starbucks vẫn nỗ lực có hiệu quả để khắc phục và vươn lên. Với tất cả những người khổng lồ như trường hợp của Trung Nguyên, chỉ ra nguyên nhân cũng chính là đầu mối để gỡ những khó khăn. Hơn thế nữa, khắc phục khó khăn là niềm hạnh phúc bởi nó đáp ứng kỳ vọng của những người yêu mến sản phẩm Việt và mong muốn nó bay cao, bay xa trên thế giới để quảng bá đất nước, con người, và văn hóa Việt Nam, để nó trở thành thứ "quyền lực mềm". Không ai có thể hiểu vấn đề của Trung Nguyên rõ ràng hơn chính những con người của Trung Nguyên, vì thế tác giả bài viết này chỉ nêu một số đề xuất có tính khái quát từ những phân tích trong phần trước nhằm góp phần củng cố Trung Nguyên.

Như phân tích, có ba vấn đề chính đang đe dọa sự tồn tại của Trung Nguyên: Đối tượng khách hàng, phong cách tại quán và khẩu vị. Ba vấn đề này có mối quan hệ đan xen nhau. Ví dụ khẩu vị đi đôi với từng đối tượng khách hàng hay phong cách tại quán đi đôi với đối tượng khách hàng (và như thế lại liên quan đến khẩu vị)…

- Điều cần làm trước tiên, trọng tâm của việc củng cố nằm ở các cửa hàng. Có thể nói Trung Nguyên cần bỏ nhiều công sức ra “dọn dẹp” hệ thống cửa hàng như hiện nay. Đây là nơi các trải nghiệm, cảm nhận, và hưởng thụ các giá trị của cà phê Trung Nguyên một cách đầy đủ và sang trọng nhất. Về hình thức, quán Trung Nguyên phải thể hiện được sự mới mẻ, thoải mái và độc đáo; phải thể hiện được một “đẳng cấp” sang trọng, hiện đại chứ không thể làng nhàng với ý đồ phục vụ đại chúng (mà thực chất là một cấp độ tầm thường), từ giới bình dân cho đến giới cao sang. Về tư tưởng, phải luôn bám sát Triết lý Cà phê Sáng tạo trong tôn chỉ của Trung Nguyên, từ thiết kết sản phẩm đến phong cách phục vụ, phong cách quán. Phong cách tại quán chính là một yếu tố rất quyết định đến thành công của chuỗi các cửa hàng. Về phương châm, có thể nói gọn là phải địa phương hóa các giá trị phổ quát, toàn cầu mà Trung Nguyên đang phục vụ và theo đuổi nhằm tạo ra một hình ảnh Trung Nguyên vừa thân thuộc địa phương vừa mang tính toàn cầu.
Ở một góc độ khác, về mặt nguồn lực, chính tại các quán, Trung Nguyên phải giải bài toán có ba nghiệm là Cà phê – Công nghệ - Nhân văn như thế nào. Nếu chỉ Cà phê thì chỉ phục vụ những hạt cà phê chất lượng, cho những ly cà phê thơm ngon dạng “đỉnh” thế giới. Nếu có thêm Công nghệ, tức là phục vụ thêm âm nhạc, trang bị máy móc (kể cả trưng bày máy móc chế biến cà phê và phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ), và các chương trình phụ kèm theo để khuyến khích người sử dụng cà phê (như phần thưởng, đố thưởng, bốc thăm thưởng…). Nếu có thêm Nhân văn, tức là có thêm sự tham gia của chính người uống cà phê vào việc tận hưởng, tạo dựng, phổ biến các giá trị văn hóa, nhân bản mang tính toàn cầu. Phải nghiên cứu công phu để đủ thông tin và từ đó tìm ra nghiệm của bài toán.

- Ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh và thị trường sản phẩm từ cà phê ngày càng phân mảnh. Vì thế, Trung Nguyên cần xác định cho đúng bản sắc cà phê Việt mà Trung Nguyên mong muốn làm đại diện. Bản sắc cà phê không chỉ bó hẹp ở sản phẩm từ hạt cà phê (phần cứng) mà còn bao gồm tất cả những thông tin, giá trị, hình ảnh, phong cách mang tính chất "phần mềm", giá trị "mềm". Không được coi nhẹ bất cứ phần nào mà chỉ có một cách duy nhất là nỗ lực để nâng cao chất lượng của cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng phải thể hiện được sự khác biệt với các sản phẩm khác về mùi, về vị (và cả âm thanh) chứ không thể như hiện nay, rất mù mờ. Khẩu vị là yếu tố quyết định thành công đối với các sản phẩm cà phê dùng tại nhà.
Phần mềm là những giá trị được truyền tải có tính nhân văn, thời đại, là phát triển xanh (như trong tôn chỉ phát triển của Trung Nguyên). Đó là điều rất hay nhưng phải làm sao cho rõ nét hơn mà vẫn nhẹ nhàng, tinh tế, sâu lắng.

- Kết hợp khéo léo yếu tố khẩu vị và phong cách để có sản phẩm phù hợp với đối tượng khách hàng cụ thể trong nước, vùng miền; người trong nước với người nước ngoài, châu lục này với châu lục kia.

- Điều cuối cùng, cần phải nói đến một hướng phát triển mà các tác giả của nghiên cứu đề cập ở phần đầu bài viết này đề xuất. Đó là một “đại dương xanh” của cà phê Việt Nam hiện nay không đâu xa mà chính là thị trường nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền Nam với các sản phẩm cà phê hòa tan tiếp cận bằng chiến lược giá “mềm”.

Thay đổi tỷ giá hối đoái USD/VND ảnh hưởng đến lạm phát bao nhiêu phần trăm?

Thay đổi tỷ giá hối đoái USD/VND ảnh hưởng đến CPI bao nhiêu phần trăm?   Sáng 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam công bố quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND, từ 18.932 VND lên 20.693 VND (tăng 9,3%), đồng thời thu hẹp biên độ áp dụng cho tỷ giá của các ngân hàng thương mại từ +/-3% xuống còn +/-1%.

Ngay sau quyết định này của Ngân hàng Nhà nước, một loạt các chuyên gia và tổ chức quốc tế đã lên tiếng bình luận. Theo đó, các ý kiến tỏ ra tán thành với động thái của NHNN, cho rằng  việc tăng tỷ giá tham chiếu USD/VND sẽ làm giảm bớt những áp lực đối với dự trữ ngoại hối của Việt Nam, hỗ trợ tích cực cho lĩnh vực xuất khẩu, từ đó làm giảm bớt áp lực đối với cán cân thương mại. Bên cạnh đó, cũng có những lo ngại về khả năng lạm phát gia tăng và áp lực đối với các khỏa nợ của Việt Nam sau khi tỷ giá tham chiếu được điều chỉnh tăng  như trên

Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến lạm phát là có cơ sở. Theo một nghiên cứu về lạm phát trong tình trạng đô la hóa ở Việt Nam của Michaël Goujon năm 2006 ( Fighting inflation in a dollarized economy: The case of Vietnam. Journal of Comparative Economics 34 (2006) 564–581) thì có ba kênh ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá lên lạm phát:

Thứ nhất, thay đổi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lên giá hàng hóa xuất khẩu (tradables) và hàng hóa  sản  xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables) (thông qua nhập khẩu các yếu tố đầu vào chẳng hạn).  Giới nghiên cứu gọi là hai ảnh hưởng này của tỷ giá lên lạm phát là nhóm ảnh hưởng chuyển tỷ giá hối đoái lên lạm phát (exchange rate pass – through)

Thứ hai, biến động của tý giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền. Sự mất giá của đồng nội tệ sẽ gia tăng cung tiền do giá trị bằng nội tệ của các tài sản neo theo ngoại tệ tăng cùng với sự phá giá đồng tiền. Nói cách khác, biến động tỷ giá ảnh hưởng đến chênh lệch tiền tệ giữa cung và cầu tiền tệ và lạm phát.

Thứ ba, sự phá giá đồng nội tệ có thể dẫn đến sự gia tăng giá hàng xuất khẩu và giá của hàng sản xuất và tiêu dùng trong nước (như nói ở điểm thứ nhất) và điều này ảnh hưởng đến cầu và cung của hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước. Cung của hàng hóa này có thể giảm trong khi cầu của chúng tăng sẽ tạo áp lực lên lạm phát.

Về mặt định tính, lạm phát có xu hướng tăng sau khi tỷ giá hối đoái được điều chỉnh tăng. Một câu hỏi quan trọng là liệu có thể dự báo mức tăng lạm phát (cụ thể là tăng của chỉ số giá tiêu dùng CPI) là bao nhiêu ứng với đợt điều chỉnh tăng ngày 11/02/2011.

Lâu nay, nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam không nhiều, lý do chính là do các hạn chế về dữ liệu. Để trả lời cho câu hỏi trong bài này, chúng tôi điểm lại một số nghiên cứu gần đây.

Nghiên cứu thứ nhất của Phạm Thế Anh, đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển số tháng 12 năm 2009 với nhan đề “Xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam”, sử dụng số liệu theo thời gian từ quý 1 năm 1995 đến quý 4 năm 2008. Về vai trò của chỉ riêng tỷ giá hối đoái (đo bằng tỷ giá USD/VND) với lạm phát trong dài hạn, kết quả bài báo cho thấy: trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, lạm phát theo quý có mối quan hệ âm với tỷ giá hối đoái theo quý của 2 quý trước và mối quan hệ dương với tỷ giá hối đoái theo quý của 7 quý trước. Bài báo kết luận: sự thay đổi của tỉ giá hối đoái có những chiều hướng tác động trái chiều nhau và ở những độ trễ khác nhau lên lạm phát. Kết quả nghiên cứu của bài báo này là một đóng góp quan trọng vào hiểu các yếu tố quyết định lạm phát ở Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả này không thật sự thuận tiện cho việc dự báo ảnh hưởng lên lạm phát của thay đổi tỷ giá hối đoái của một năm như chúng ta đang quan tâm.

Nghiên cứu thứ hai của Ngô Quang Thành, đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế số tháng 12/2010 với nhan đề “Vấn đề cơ cấu và không gian của lạm phát ở Việt Nam”, sử dụng số liệu chéo của một năm 2006 từ thông tin lạm phát và các yếu tố có liên quan của 64 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Đối với ảnh hưởng lên chỉ số CPI của riêng tỷ giá hối đoái  giữa VND với USD, nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ dương. Về mặt định lượng: Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, trung bình, chỉ số tăng tỷ giá hối đoái tại một địa phương tăng 1%, chỉ số CPI của địa phương đó tăng 0,21%. Lưu ý rằng con số 0,21%  này là tổng ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên giá hàng hóa xuất khẩu (tradables) và hàng hóa  sản  xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables) (hay exchange rate pass – through).  

Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn chỉ ra tác động lan tỏa theo địa lý của CPI giữa các địa phương. Trong trường hợp tỷ giá đoái VND với USD tăng 1% tại một địa phương, CPI các địa phương còn lại tăng tổng cộng khoảng 0,11% điểm.

Tổng hợp lại, giả sử chỉ số tăng tỷ giá hối đoái VND với USD tăng 1%  tại tất cả các địa phương, CPI trung bình của cả nước có thể tăng lên đến khoảng 0,33% điểm trong một năm.

Trở lại chủ đề ảnh hưởng của quyết định thay đổi tý giá hối đoái của NHNN ngày 11/02/2011, có thể dự báo rằng tỷ lệ CPI tăng do ảnh hưởng của việc tỷ giá hối đoái tăng 9,3% trung bình khoảng 3,1% điểm. Đây là mức tăng chỉ số CPI chỉ do ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái (trực tiếp, không qua trung gian biến số kinh tế khác như cung tiền tệ hay cung cầu hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước nhưng có tính đến ảnh hưởng lan tỏa theo địa lý).

Như vậy, theo nghiên cứu định lượng công phu đối với lạm phát ở Việt Nam, mức tăng chỉ số CPI trong năm 2011 do ảnh hưởng của thay đổi của riêng tăng tỷ giá hối đoái USD/VND nhìn chung không phải là nhỏ nếu tính đến mặt bằng chỉ số CPI thời gian qua. Tuy nhiên, chính phủ vẫn có nhiều công cụ và biện pháp điều hành hợp lý để đạt lạm phát như mong muốn.  

Quang Thành
14/02/2011

Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2011

Thật ra là bao nhiêu phần trăm ----> Blog Nguyễn Vạn Phú

Blog Nguyễn Vạn Phú có bài viết về tỷ giá hối đoái

(http://nguyenvanphu.blogspot.com/2011/02/bao-nhieu-phan-tram.html)

như sau:

-----------------------------------------

Bao nhiêu phần trăm?
Sáng nay Ngân hàng Nhà nước tuyên bố điều chỉnh tỷ giá. Mấy tiếng sau, các hãng tin và báo chí nước ngoài đưa tin đầy đủ nhưng lạ một điều mỗi báo đưa một con số phần trăm khác nhau.
Financial Times nói là 9,3% (The State Bank of Vietnam, the central bank, said on its website that it was cutting the official dong-dollar exchange rate from 20,693 to 18,932, a reduction of 9.3 per cent). (Câu này thì Financial Times viết nhầm rồi – lẽ ra phải là to 20,693 from 18,932 hay đảo ngược hai con số lại).
Reuters nói 8,5% (The State Bank of Vietnam dropped the dong's reference rate by 8.5 percent against the dollar and narrowed the currency's trading band to 1 percent from 3 percent on either side of that midpoint rate).
Sau đó bổ sung thêm con số 7% (The combined effect pulled the weak limit of the band down about 7 percent to 20,900 from 19,500, and brought official and black market exchange rates closer to alignment).
Bloomberg nói 7% ngay trong tít (Vietnam Devalues Dong by a Record 7%, Seeking to Curb Deficit).
Con số nào mới đúng?
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước 1 USD ăn 18.932 đồng sau điều chỉnh thành 1 USD ăn 20.693 đồng thì đó là một mức điều chỉnh tăng 9,3% cho những người nắm đồng đô-la.
Hãng Reuters ngược đời nhìn từ phía người nắm tiền đồng, trước 18.932 đồng đổi được 1 USD nay phải 20.693 đồng mới đổi được 1 USD thì đó là một mức giảm 8,5% giá trị tiền đồng so với đô-la Mỹ.
Còn 7% là so sánh tỷ giá niêm yết của ngân hàng (đã cộng biên độ giao dịch) trước và sau điều chỉnh.
Theo tôi, không có con số nào đúng cả vì trong thực tế, đã lâu rồi, làm gì có chuyện 18.932 đồng hay 20.693 đồng hay thậm chí 20.900 đồng đổi được 1 USD! Nói đùa vậy thôi chứ coi bộ Reuters nói chính xác nhất. Ví dụ, tỷ giá từ 20.000 đồng/1 USD lên 40.000 đồng/1 USD thì chúng ta sẽ nói tiền đồng mất giá một nửa (50%) chứ đâu nói tiền đồng mất giá 100% (mất 100% là mất sạch rồi còn gì)! Hơn nữa, với những người chỉ có tiền đồng thì thấy nó giảm giá 8,5% so với đô-la Mỹ chứ làm gì có đô-la để nói nó tăng 9,3% như báo chí trong nước.
-----------------------------------------------------

Theo tôi, Finacial Times và Reuter nói đều đúng, theo cách nói của họ (cũng là nói theo các cách kinh tế thông thường thôi).

-
Financial Times nói là 9,3% (The State Bank of Vietnam, the central bank, said on its website that it was cutting the official dong-dollar exchange rate from 20,693 to 18,932, a reduction of 9.3 per cent).

Xem câu văn tiếng Anh thì biết là FT nói rằng SBV giảm tỷ giá hối đoái từ 18,932 xuống 20,693 (đồng ý với ông Phú là FT nhầm chỗ này). Và vì cái biến số kinh tế ở đây là tỷ giá hối đoái cho nên nói giảm 9,3% là phù hợp.

Công thức: (20,693 - 18,932)/18,932 = 9,3%

-
Reuters nói 8,5% (The State Bank of Vietnam dropped the dong's reference rate by 8.5 percent against the dollar and narrowed the currency's trading band to 1 percent from 3 percent on either side of that midpoint rate).

Xem câu văn tiếng Anh thì ý Reuter là SBV giảm giá (trị) đồng việt 8,5% so với USD. Nhớ rằng là ở đây biến số kinh tế đề cập là giá trị đồng Việt Nam nhé.
Công thức: (18,932 - 20,693)/20,693 = - 8,5%

Nói thêm 1, nếu báo Việt Nam mà nói: ... tăng 9,3% thì cũng phải xem lại ngữ cảnh mới kết luận được (ông Phú không dẫn link nên tôi chả kiểm tra được).

Nói thêm 2: Sau đó giải thích của ông Phú chứng tỏ ông không chủ tâm phân biệt hai cơ sở dùng tính toán là: tỷ giá hối đoái (bản thân nó) và giá trịđồng tiền.

Nói thêm 3: Blog Ba Sàm sau đó dẫn blog Nguyễn Vạn Phú kèm 1 lời bình như sau (http://basam.info/):

"
Hic! Đúng là cái hình nhân dị hợm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” nó làm cho tụi tư bổn giãy … đành đạch vì không hiểu nổi."

Quả thật là một sự ba láp!

Tôi không còm được ở nhà ông Phú nên làm 1 cái entry ở đây.

Mubarak - Thế là không có Phản đảo chính

Tối ngày ông Mubarak tuyên bố trên truyền hình rằng sẽ tại vị và không rời đất nước bất chấp sức ép. Tôi bỗng hình dung một kết hoặch "Đảo chính - Phản đảo chính" ở đất nước Ai Cập này.
Vài giờ trước bài phát biểu của ông Mubarak, Hội đồng Tối cao quân đội Ai Cập gồm các tướng lĩnh cấp cao do Bộ trưởng Quốc phòng Hussein Tantawi đứng đầu tuyên bố họ đã thực sự "dấn thân" để đảm bảo an ninh cho đất nước. Thông điệp này có tên gọi "Thông cáo số một" nên được hiểu như chỉ dấu về một cuộc đảo chính và đô đốc Tantawi cùng các tướng lĩnh đang nắm quyền kiểm soát đất nước. Tuyên bố của ông Tantawi được phát trên truyền hình quốc gia với hình ảnh ông ngồi ghế chủ toạ một hội đồng gồm hàng chục tướng lĩnh cao cấp nhất. Tổng thống Mubarak và Phó tổng thống Suleiman, một cựu tướng lĩnh và giám đốc cơ quan tình báo quốc gia, không có mặt trong sự kiện này, càng cho thấy sự rạn nứt giữa quân đội với chính quyền. Các tướng lĩnh Ai Cập còn phát đi thông điệp với đám đông hàng trăm nghìn người đang nêm chặt quảng trưởng Tahrir Cairo rằng tất cả yêu sách của họ sẽ sớm được đáp ứng. Tín hiệu này khiến người biểu tình vui sướng với ý nghĩ đã đến lúc chuẩn bị ăn mừng chiến thắng vì ông Mubarak sẽ từ chức ngay trong đêm. Nhưng những gì diễn ra sau đó lại hoàn toàn trái với tuyên bố của quân đội (Theo vnexpress).

Tôi đã hình dung một viễn cảnh đẫm máu trong kế hoạch "Đảo chính - Phản đảo chính" như sau:

Bước 0: Mubarak cố tỏ ra yếu thế và nhượng bộ, thỏa thuận ngầm với một nhóm sĩ quan quân đội cao cấp về sự chuyển giao quyền lực an toàn cho bản thân ông và gia đình.

Bước 1: Đảo chính: Một nhóm sĩ quan cao cấp quân đội thực hiện đảo chính và ra tuyên bố công khai, gạt bỏ ông Mubarak khỏi chính trường.

Bước 2: Phản đảo chính: Một nhóm sĩ quan cao cấp khác tuyệt đối trung thành với Mubarak kéo quân về tiêu diệt nhóm sĩ quan quan đảo chính. Sau đó đưa Mubarak trở lại nắm quyền hoặc chí ít cũng là một chính quyền thân Mubarak.

Kịch bản Đảo chính - Phản đảo chính này từng diễn ra ở Miền Nam Việt Nam năm 1963 khi Ngô Đình Diệm đạo diễn kịch bản gồm 2 bước để loại các sĩ quan thân Mỹ. Nhưng, Mỹ đã mua chuộc hầu hết các nhân vật chính trong phần Phản đảo chính, khiến cho Ngô Đình Diệm bị thua trong ván cờ quyết định.

Nhưng, những diễn biến nhanh chóng sau đó không theo những gì tôi hình dung và lạy chúa, đó là một điều tốt đẹp cho người Ai Cập vì máu sẽ chấm dứt đổ trên mảnh đất xinh đẹp này. Cũng phải nói rằng, theo báo chí, có khoảng 300 người đã thiệt mạng do xung đột từ khi biểu tình chống chính quyền nổ ra.

Theo tin mới, Mubarak đã chính thức rời khỏi chức vụ Tổng thống Ai Cập, chấm dứt hơn 29 năm lãnh đạo.

Sức mạnh - lợi ích của quần chúng và các áp lực, tính toán quốc tế đã thắng lợi ích liên kết giữa Mubarak và giới lãnh đạo quân đội nước này.


-  Có thể rằng thời đại ngày này không dung nạp cho những toan tính đẫm máu như hồi năm 1963 của Ngô Đình Diệm.

- Có thể Mỹ cũng đã kịp móc nối với các sĩ quan cao cấp chủ trì trong cuộc chuyển giao quyền lực lần này. Sự phân rã các quan hệ lợi ích giữa Mubarak và giới quân đội đã không thể cứu vãn.

- Có thể, máu quần chúng đã đổ và chính nghĩa quyền lợi người dân đã đủ chùn tay, chùn óc các kế hoạch đàn áp đẫm máu.

Lịch sử luôn cho thấy rằng sau các cuộc lật đổ là các cuộc mặc cả chính trị. Mong rằng thành quả mà nhân dân Ai Cập bỏ máu ra để giành lấy sẽ không bị tước đoạt và trôi  ra ngoài miệng của họ.
Và, thế nào Mubarak cũng sẽ bị xét xử vì "tội ác" liên quan đến cái chết của khoảng 300 người thời gian qua, và trong quá khứ.

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011

Chùm thơ 3 bài về tình yêu

Lau sậy tình yêu

Mt tri sinh ra t ngôi sao cháy đ
Dòng sông sinh ra t đt tri r nước mt yêu thương
Bông hoa sinh ra t trong mt ca người nhìn ta đi sut con đường




Ta thy em ngày hôm nay
Cười trong phng pht ni bun ngày cũ
Như nhng dòng sông
Có mùa trong xanh ca hát
Có mùa ưu tư nng  phù sa



Nhng khúc quanh ghnh thác cuc đi em
Lòng sông hiu hết
Bãi b ru em nhng chiu tím ngt
Sáng mai sông li rn rã phiên ch cuc đi
Sông vn chy bao năm ri sông ơi
Có khi nào nghĩ v bến b thinh lng



Ri mt ngày em cũng hiu
Tình yêu không th vo tròn gn gh
Như chiếc thuyn câu th trôi dòng sông bc
Phi tri rng dài, ngút ngát
Bến b xanh.
Như nhng lau sy vươn mình


08 Tháng 4 2009

 Bay

Nếu như gió hời hợt không hiểu được
Thì anh đây tự hóa bão bay đi
Suốt đời đi tìm phẩm chất tình yêu
Ngọn cỏ đắng cũng khiến mình câm lặng


Anh bây giờ, chỉ còn nắng mà thôi


04 Tháng 4 2009


Mùa yêu

Những mùa nhớ nhung
Gấp trong bức thư chưa chấm hết dòng
Dành trong máy tính
Theo ta đến những khung trời loang lổ chiều rỗng không




Mùa yêu
Anh về gom câu chữ
Thành bão ôm cỏ vàng mênh mông...

23 tháng 3 năm 2009

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Thử về quê phỏng vấn dùm ...

Nhân đọc bài phỏng vấn thuộc hạng xoàng hai UVTW dự khuyết trẻ nhất của Khóa XI đăng trên Tuổi Trẻ.

Ờ thì dư luận bàn tán nhiều nên phỏng vấn 2 vị này cũng phải. Cũng phải hỏi câu hỏi để họ nói lên ý kiến của mình trước dư luận. Nói chung, các câu trả lời đều "không có dấu ấn", thời của thế.

Nếu tôi làm phóng viên, tôi sẽ đi về quê để phỏng vấn mấy vị trẻ khác vừa trúng UVTW dự khuyết Khóa XI mà xem chừng mới trúng đó mà đã bị lãng quên. Đó là:
Võ Thị Ánh Xuân Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Tân Châu, tỉnh An Giang

Nguyễn Văn Thể Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ Tân Hồng, Đồng Tháp


Lâm Văn Mẫn Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng

Trần Lưu Quang Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

Chúng ta có thể sẽ biết:

- Các UVTW dự khuyết này có đồng ý cho phỏng vấn hay không. Cái này có nhiều hàm ý lắm.

- Họ là "ai", từ đó suy ra các đại biểu khi bỏ phiếu có "biết" họ là ai hay không

- Có nhân vật nào thú vị hơn không


Biết đâu ấy, có bài viết "theo đơn đặt hàng" của tôi có tựa như:

- Bí thư huyện ủy chân đất vào Trung ương

- Cánh cò vùng đất lúa gieo những hạt mầm xanh

- Bí thư huyện của dân nghèo

là lá la, Tuổi trẻ có muốn làm nữa không? Hay Đất Việt làm nhé!